Kinh tế châu Á và tình hình năng lượng

[ASEAN] Lạm phát năng lượng ảnh hưởng các nước mới nổi, tăng trưởng bị điều chỉnh giảm liên tục

Ảnh: NNA

Sự căng thẳng gia tăng ở Trung Đông đang là yếu tố kéo giảm triển vọng tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi ở châu Á. Theo báo cáo ngày 8/4 của Ngân hàng Thế giới (WB), dự báo tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của các nền kinh tế mới nổi ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) năm 2026 đã liên tục bị điều chỉnh giảm. Các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng đối mặt với những lo ngại về suy thoái kinh tế Trung Quốc.

Dự báo tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi EAP trong năm nay đã được điều chỉnh giảm từ 4,5% xuống 4,1% so với cùng kỳ năm trước.

Mức điều chỉnh giảm lớn nhất thuộc về Philippines với 1,7 điểm phần trăm, tiếp theo là ◇ Myanmar giảm 1,0 điểm phần trăm ◇ Thái Lan giảm 0,5 điểm phần trăm ◇ Campuchia giảm 0,4 điểm phần trăm ◇ Lào giảm 0,1 điểm phần trăm ◇ Indonesia giảm 0,1 điểm phần trăm. Ngược lại, Trung Quốc giữ nguyên dự báo, trong khi Việt Nam, Malaysia và Đông Timor được điều chỉnh tăng.

Trong báo cáo, WB chỉ ra rằng các quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu năng lượng sẽ đối mặt với rủi ro cao hơn. Tỷ lệ nhập khẩu ròng khí đốt và dầu mỏ so với GDP đặc biệt cao ở Lào và Thái Lan, điều này cho thấy giá năng lượng tăng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức mua của người tiêu dùng.

Mỹ và Israel đã bắt đầu tấn công Iran vào ngày 28 tháng 2. Mặc dù giá dầu thô đã tạm thời giảm mạnh sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố tạm dừng các cuộc tấn công có điều kiện trong hai tuần, nhưng căng thẳng vẫn tiếp diễn. WB lưu ý rằng kinh tế EAP sẽ bị ảnh hưởng theo các hình thức sau: ◇ Chi phí sản xuất tăng do giá năng lượng, phân bón và lương thực tăng ◇ Gián đoạn chuỗi cung ứng do chi phí vận chuyển tăng ◇ Chi phí huy động vốn tăng do nhà đầu tư tìm kiếm tài sản an toàn ◇ Xuất khẩu trì trệ do suy thoái kinh tế toàn cầu ◇ Giảm kiều hối từ lao động nước ngoài ở Trung Đông về quê hương.

Sự mong manh trong kinh tế của mỗi quốc gia cũng bộc lộ rõ rệt. Lượng dự trữ dầu của Campuchia, Indonesia và Việt Nam chỉ đủ dùng trong khoảng 1-2 tháng. Malaysia và Đông Timor là những quốc gia có nhu cầu vốn bên ngoài đặc biệt cao.

Khả năng chính sách để đối phó với rủi ro địa chính trị ngày càng gia tăng khác nhau giữa các quốc gia. Nợ chính phủ so với GDP đặc biệt cao ở Lào, Trung Quốc và Thái Lan. Cán cân tài khóa vào năm 2025 cho thấy nhiều quốc gia thâm hụt.

Dự báo tăng trưởng GDP năm 2026 của 9 quốc gia ASEAN (trừ Singapore và Brunei) lần lượt là ◇ Việt Nam = 6,3% ◇ Indonesia = 4,7% ◇ Malaysia = 4,4% ◇ Đông Timor = 4,1% ◇ Campuchia = 3,9% ◇ Philippines = 3,7% ◇ Lào = 3,5% ◇ Myanmar = 2,0% ◇ Thái Lan = 1,3%.

Năm 2025, Việt Nam đứng đầu về tăng trưởng trong khu vực, tiếp theo là Malaysia và Indonesia.

WB nhấn mạnh rằng tăng trưởng trong tương lai của các nền kinh tế mới nổi EAP sẽ phụ thuộc vào mức độ tự do thương mại, tính nhất quán của chính sách và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI). Đặc biệt, kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ mô hình nông nghiệp sang mô hình định hướng xuất khẩu thông qua cải cách. Ngược lại, các quy định chặt chẽ, bao gồm cả các rào cản phi thuế quan, đang cản trở sự tăng trưởng ở Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và các quốc gia khác.

Châu Á phát triển chậm lại, lạm phát tăng nhanh do xung đột Trung Đông = ADB

Ảnh tàu chở dầu ngoài khơi Oman, chụp tại Muscat, Oman ngày 10 tháng 3. REUTERS/Benoit Tessier

[Manila, ngày 10/4, Reuters] - Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) ngày 10/4 cho biết, trong bối cảnh xung đột ở Trung Đông gây ra sự hỗn loạn trên thị trường thương mại và năng lượng, tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển châu Á - Thái Bình Dương trong năm nay sẽ chậm lại. ADB cho biết mức độ suy giảm sẽ phụ thuộc vào thời gian kéo dài của cuộc khủng hoảng.

Chủ tịch ADB Masatsugu Kawaguchi gọi xung đột Trung Đông là một "thử thách khắc nghiệt" đối với sự phát triển kinh tế của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, và nó đã mang lại thêm sự không chắc chắn cho tình hình thế giới vốn đã mong manh.

Trong báo cáo "Triển vọng Phát triển Châu Á" mới nhất, ADB dự báo nếu cuộc xung đột kéo dài đến quý 3 năm nay, tăng trưởng của khu vực trong năm nay sẽ giảm từ 5,4% của năm ngoái xuống 4,7%, và tỷ lệ lạm phát có thể tăng từ 3,0% của năm ngoái lên 5,6%.

ADB ước tính rằng nếu cuộc xung đột kéo dài một năm, nó có thể làm giảm khoảng 1,3 điểm phần trăm tăng trưởng vào năm 2026-2027.

Các nước đang phát triển châu Á mà ADB định nghĩa bao gồm 43 quốc gia và vùng lãnh thổ ở châu Á-Thái Bình Dương, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Georgia, Samoa, nhưng không bao gồm Nhật Bản, Úc, New Zealand, Singapore và Hàn Quốc.

Những dự báo này trái ngược với kịch bản cơ bản của báo cáo được chốt vào ngày 10 tháng 3. Trong kịch bản cơ bản giả định xung đột kéo dài một tháng, tăng trưởng vào năm 2026 và 2027 dự kiến sẽ chỉ giảm nhẹ xuống còn 5,1%, và lạm phát sẽ tăng lên 3,6% vào năm 2026, sau đó giảm xuống 3,4% vào năm 2027.

Tại một cuộc họp báo, Kinh tế trưởng ADB Albert Park cho biết: "Phân tích kịch bản trong báo cáo này tập trung vào rủi ro xung đột Trung Đông và sự gián đoạn nguồn cung năng lượng liên quan kéo dài hơn kịch bản ổn định sớm, và hiện tại khả năng này được cho là khá cao."

Ông cũng chỉ ra rằng: "Lệnh ngừng bắn kéo dài hai tuần giữa Hoa Kỳ và Iran có vẻ khá mong manh, và thị trường dự báo cũng không đánh giá cao khả năng lệnh ngừng bắn này sẽ kéo dài."

Do đó, ông khuyến nghị: "Ưu tiên chính sách nên là đẩy nhanh đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả năng lượng để kiềm chế lạm phát và bất ổn tài chính trong ngắn hạn, đồng thời giảm thiểu rủi ro trong tương lai."

KINH TẾ TĂNG TRƯỞNG GDP 2024 2025 2026 2027
Caucasus và Trung và Tây Á 4.3 4.6 4.2 4.4
Đông Á 5.0 5.0 4.6 4.5
Trung Quốc 5.0 5.0 4.6 4.5
Nam Á 6.4 6.8 6.3 6.8
Ấn Độ 7.1 7.6 6.9 7.3
Đông Nam Á 4.9 4.8 4.7 4.8
Indonesia 5.0 5.1 5.2 5.2
Malaysia 5.1 5.2 4.6 4.5
Myanmar -0.7 -2.2 2.4 2.7
Philippines 5.7 4.4 4.4 5.5
Thái Lan 2.9 2.4 1.8 2.0
Việt Nam 7.1 8.0 7.2 7.0
Thái Bình Dương 3.9 4.2 3.4 3.2
Châu Á và Thái Bình Dương đang phát triển 5.3 5.4 5.1 5.1
LẠM PHÁT 2024 2025 2026 2027
Caucasus và Trung và Tây Á 41.1 25.6 20.6 16.3
Đông Á 0.2 0.0 0.6 1.0
Trung Quốc 0.2 0.0 0.6 1.0
Nam Á 6.4 2.9 5.0 4.6
Ấn Độ 4.6 2.1 4.5 4.0
Đông Nam Á 3.0 2.3 3.2 2.8
Indonesia 2.3 1.9 2.5 2.5
Malaysia 1.8 1.4 1.8 1.9
Myanmar 29.6 25.2 24.0 16.0
Philippines 3.2 1.7 4.0 3.5
Thái Lan 0.4 -0.1 1.3 1.0
Việt Nam 3.6 3.3 4.0 3.8
Thái Bình Dương 1.7 3.0 4.2 3.5
Châu Á và Thái Bình Dương đang phát triển 5.3 3.0 3.6 3.4