
Thách thức của chính sách ngoại kiều
Hiện tại, "chính sách ngoại kiều" đang đứng trước ngưỡng cửa của những thay đổi lớn. Các động thái siết chặt việc nhập quốc tịch, vấn đề viện phí chưa thanh toán, và "chuyển đổi giấy phép lái xe nước ngoài" đang được tiến hành. Vậy hiện trạng và những thách thức sắp tới của "Chính sách ngoại kiều" do chính phủ của Thủ tướng Takaichi thúc đẩy là gì?
[Xem ảnh] Trung Quốc "lợi dụng" phát ngôn của Thủ tướng Takaichi? Luật về "tình huống nguy hiểm đe dọa sự tồn vong" mà ngay cả các nghị sĩ quốc hội cũng hiểu lầm – Hiện trạng và thách thức an ninh của Nhật Bản](https://news.ntv.co.jp/n/ytv/category/politics/yt5b19a8ac04ce4842977030a145bbd217/image?p=1)

Chính sách ngoại kiều sẽ thay đổi ra sao?
"Chính sách ngoại kiều" được Thủ tướng Takaichi đích thân khởi xướng, xuất phát từ nhiều vấn đề mà xã hội Nhật Bản đang đối mặt. Thủ tướng Takaichi cũng đã phát biểu: "Việc có những lĩnh vực cần nhân lực nước ngoài do thiếu hụt lao động đi kèm với suy giảm dân số là một thực tế. Tuy nhiên, việc người dân cảm thấy bất an và bất công trước các hành vi vi phạm pháp luật hoặc lệch chuẩn của một bộ phận người nước ngoài cũng là một thực tế."
Chính phủ dự kiến sẽ hoàn thiện chính sách cơ bản về ngoại kiều, bao gồm điều chỉnh hệ thống, quy định về đất đai, quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, vào khoảng tháng 1 năm 2026.

Siết chặt nhập quốc tịch
Tính đến cuối năm 2024, số lượng người nước ngoài cư trú tại Nhật Bản đạt mức cao kỷ lục là 3.768.977 người, đã tăng 10,5%. Trong số đó, có 12.248 người nộp đơn xin nhập quốc tịch và 8.863 người được chấp thuận.
Đồng Chủ tịch Fujita của Đảng Ishin (Đổi mới Nhật Bản) đã đề xuất: "Các điều kiện để nhập quốc tịch còn lỏng lẻo hơn so với việc cấp giấy phép cư trú vĩnh viễn. Chúng ta nên thảo luận về vấn đề này."

Điều kiện nhập quốc tịch
Hiện tại, thời gian cư trú tối thiểu cần thiết để nhập quốc tịch là 5 năm, nhưng có một đề xuất muốn tăng lên thành 10 năm trở lên. Ngoài ra, các yêu cầu khác bao gồm: có đạo đức tốt (không có tiền án, tình hình nộp thuế), và có khả năng tự nuôi sống bản thân mà không gặp khó khăn về thu nhập.
Số lượng người lao động tại Nhật Bản, bao gồm cả người Nhật, tính đến tháng 10 năm 2025 là khoảng 68,65 triệu người. Theo Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, dân số trong độ tuổi lao động dự kiến sẽ tiếp tục giảm trong tương lai, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động kéo dài.
Tại Nhật Bản, nơi tình trạng giảm tỷ lệ sinh và già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng, lao động kỹ năng từ nước ngoài là không thể thiếu. Theo Cơ quan Quản lý Xuất nhập cảnh và Cư trú, dự kiến 820.000 người sẽ được tiếp nhận vào 16 lĩnh vực kỹ năng đặc định như chăm sóc điều dưỡng, xây dựng và nông nghiệp trong 5 năm kể từ năm 2024.

Tỷ lệ cư dân nước ngoài trong tổng dân số ở độ tuổi 20 của tỉnh Aomori đã tăng từ 0,9% vào năm 2015 lên 4,2% vào năm 2025, với tốc độ tăng trưởng nhanh hơn mức trung bình cả nước. Trong đó, nữ giới chiếm 54,8% và nam giới 45,2%. Ngay cả tại tỉnh Aomori, nơi tình trạng giảm tỷ lệ sinh và già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng, cấu trúc phụ thuộc vào nhân lực trẻ nước ngoài làm lực lượng lao động trong các ngành công nghiệp đang ngày càng mạnh mẽ, không phân biệt giới tính.
Tuy nhiên, trong số các tỉnh thành trên cả nước, Aomori đứng thứ hai về mức độ thấp (4,2%), chỉ sau tỉnh Akita (3,3%). Điều này cho thấy Aomori đang tụt hậu trong việc thu hút nhân lực trẻ nước ngoài so với mặt bằng chung cả nước. Cách thức tiếp cận trong tương lai sẽ là một trong những chìa khóa để duy trì nền kinh tế của tỉnh Aomori.
Xét về cơ cấu độ tuổi của người nước ngoài sinh sống tại tỉnh Aomori, những người ở độ tuổi 20 chiếm gần một nửa tổng số, với 44,5%. Theo sau là độ tuổi 30 chiếm 20,9% và độ tuổi 40 chiếm 10,9%, tức là thế hệ trong độ tuổi lao động chính chiếm ba phần tư tổng số.
Về quốc tịch, Việt Nam chiếm 26,8%, hơn một phần tư tổng số. Tiếp theo là Indonesia 13,7%, Philippines 11,7%, Trung Quốc 11,6%, Hàn Quốc 7,5%, Myanmar 6,9%, Hoa Kỳ 4,7%, Nepal 2,8%, Campuchia 2,5%, Thái Lan 1,8%, v.v. Tổng cộng 10 quốc gia này chiếm 90% tổng số.